cpap.vn xin chào !
HỘI CHỨNG GIẢM THÔNG KHÍ DO BÉO PHÌ- CPAP HAY BIPAP

Hội Chứng Giảm Thông Khí Do Béo Phì: CPAP Hay BiPAP?

Với người mắc hội chứng giảm thông khí do béo phì đang ổn định và đồng thời có OSA nặng, CPAP thường được cân nhắc trước. BiPAP hoặc thông khí không xâm lấn có thể được xem xét khi không có OSA nặng, CPAP đã được sử dụng đầy đủ nhưng trao đổi khí chưa cải thiện, hoặc người bệnh có suy hô hấp tăng CO₂ cần hỗ trợ thông khí.

Không nên chọn máy chỉ dựa vào béo phì, ngáy hoặc chỉ số SpO₂. Quyết định OHS dùng CPAP hay BiPAP cần dựa trên khí máu, mức độ OSA, bệnh đồng mắc và đáp ứng sau khi bắt đầu điều trị.

Hội chứng giảm thông khí do béo phì là gì?

Người béo phì thường mắc nhiều chứng bệnh từ tim mạch đến hô hấp, đặc biệt là ngưng thở khi ngủ và giảm thông khí do béo phì

OHS là tình trạng béo phì đi kèm rối loạn hô hấp khi ngủ và tăng CO₂ máu ban ngày sau khi đã loại trừ những nguyên nhân khác.

Chẩn đoán thường yêu cầu đủ ba tiêu chí: BMI từ 30 kg/m² trở lên, có rối loạn hô hấp khi ngủ và PaCO₂ khi thức từ 45 mmHg trở lên. Cần đánh giá và loại trừ các nguyên nhân khác có thể giải thích tình trạng giảm thông khí, như COPD nặng, bệnh thần kinh–cơ, biến dạng thành ngực, rối loạn chuyển hóa hoặc tác dụng của thuốc ức chế hô hấp.

Béo phì có thể làm giảm khả năng giãn nở của lồng ngực và tăng gánh nặng cho cơ hô hấp, từ đó khiến CO₂ không được thải đủ; xem thêm bài Tăng CO₂ máu, khi nào cần BiPAP.

Dấu hiệu nào gợi ý OHS?

Ngủ ngáy là dấu hiệu cho thấy bạn có thể mắc hội chứng ngưng thở khi ngủ

OHS nên được nghĩ đến khi người béo phì có biểu hiện của cả rối loạn hô hấp khi ngủ và giảm thông khí ban ngày.

Các dấu hiệu thường gặp gồm:

  • Ngáy to hoặc ngừng thở được chứng kiến.
  • Buồn ngủ và mệt nhiều ban ngày.
  • Đau đầu buổi sáng.
  • Khó thở khi vận động.
  • Phù chân.
  • Từng nhập viện vì suy hô hấp tăng CO₂.

Những biểu hiện này không đủ để tự chẩn đoán nhưng là lý do nên khám chuyên khoa hô hấp – giấc ngủ.

Cần xác nhận gì trước khi chọn máy?

Trước khi chọn CPAP hoặc BiPAP, cần xác nhận người bệnh thực sự mắc OHS và xác định kiểu rối loạn hô hấp khi ngủ.

BMI và nguyên nhân khác

BMI phải từ 30 kg/m² trở lên, đồng thời cần đánh giá và loại trừ các nguyên nhân khác có thể giải thích tình trạng tăng CO₂, như COPD nặng, bệnh thần kinh–cơ, biến dạng thành ngực hoặc thuốc ức chế hô hấp. Người có COPD cần được đánh giá theo bệnh cảnh riêng.

Xem thêm COPD là gì? Khi nào cần BiPAP hoặc máy tạo oxy?.

Khí máu khi thức

PaCO₂ từ 45 mmHg trở lên là tiêu chí quan trọng để xác nhận tăng CO₂ ban ngày. Với người có khả năng mắc OHS thấp đến trung bình, bicarbonate huyết thanh dưới 27 mmol/L khiến OHS ít có khả năng; nếu từ 27 mmol/L trở lên, nên đo khí máu để xác nhận hoặc loại trừ. Khi mức nghi ngờ lâm sàng cao, ATS khuyến nghị đo PaCO₂ trực tiếp thay vì chỉ dựa vào bicarbonate hoặc SpO₂. 

Đa ký giấc ngủ

Đo đa ký giấc ngủ PSG bằng Nox A1s tại CPAP.VN

Xét nghiệm giúp xác định người bệnh có OSA nặng hay không, đồng thời đánh giá AHI, oxy máu, loại sự kiện hô hấp và tình trạng giảm thông khí khi ngủ nếu có theo dõi CO₂ phù hợp.

Xem thêm Cách đọc kết quả đa ký giấc ngủ.

OHS dùng CPAP hay BiPAP trong từng tình huống?

Lựa chọn phụ thuộc chủ yếu vào mức độ OSA, trao đổi khí và bối cảnh cấp hay mạn.

Tình huống Hướng thường được cân nhắc Mức độ bằng chứng/ghi chú
OHS ổn định, điều trị ngoại trú và có OSA nặng CPAP là lựa chọn ban đầu Khuyến nghị có điều kiện của ATS; độ chắc chắn bằng chứng rất thấp. Hơn 70% người OHS trong dữ liệu hướng dẫn có OSA nặng
OHS không có OSA nặng NIV/BiPAP thường được cân nhắc trong thực hành ATS 2019 không đưa ra khuyến nghị chính thức riêng vì chưa đủ chắc chắn về lợi ích CPAP so với NIV ở nhóm này
Đã dùng CPAP đầy đủ nhưng triệu chứng hoặc trao đổi khí chưa cải thiện Đánh giá tuân thủ, rò khí và cài đặt; sau đó có thể cân nhắc chuyển sang NIV Thuật toán của ATS đề xuất đánh giá lại khi triệu chứng hoặc trao đổi khí đáp ứng chưa đủ; đây không phải một khuyến nghị độc lập trong năm câu hỏi chính
Suy hô hấp tăng CO₂ cấp hoặc cấp trên nền mạn NIV tại cơ sở y tế có theo dõi Không tự xử lý tại nhà; cần sẵn sàng nâng mức hỗ trợ nếu NIV không đáp ứng
Sau nhập viện vì suy hô hấp, nghi OHS nhưng chưa hoàn tất đánh giá Tạm thời xuất viện với NIV cho đến khi làm xét nghiệm và định chuẩn PAP ATS khuyến nghị có điều kiện; nên hoàn tất đánh giá ngoại trú và định chuẩn trong khoảng ba tháng đầu sau xuất viện
Chưa có khí máu hoặc chỉ biết SpO₂ thấp Chưa đủ cơ sở chọn CPAP hay BiPAP SpO₂ không xác nhận PaCO₂; cần đánh giá khí máu và kiểu rối loạn hô hấp trước

Các nội dung trong bảng dựa trên hướng dẫn ATS 2019. Cả năm khuyến nghị chính của hướng dẫn đều là khuyến nghị có điều kiện, dựa trên bằng chứng có độ chắc chắn rất thấp; vì vậy không nên áp dụng máy móc cho mọi người bệnh.

Nếu bác sĩ chỉ định PAP, cần xem gì trên máy và toa?

Phải chọn đúng mode và thông số được chỉ định, không chỉ chọn thiết bị có tên CPAP hoặc BiPAP.

CPAP STORE NEAR ME - Các hãng máy thở cpap tại CPAPVN

Nếu bác sĩ kê CPAP, cần xác nhận chế độ áp lực cố định hay Auto CPAP theo chỉ định, mức hoặc khoảng áp lực, khả năng ghi dữ liệu, bộ tạo ẩm và loại mặt nạ phù hợp. Người mắc OHS không nên tự lựa chọn Auto CPAP chỉ vì thiết bị có khả năng điều chỉnh áp lực tự động. Người bệnh có thể tham khảo danh mục máy CPAP tại cpap.vn sau khi đã có chỉ định.

Nếu bác sĩ kê BiPAP/NIV, toa nên được đối chiếu ít nhất với:

  • Mode được chỉ định: S, S/T hoặc chế độ hỗ trợ thông khí khác tùy thiết bị..
  • Có cần nhịp thở dự phòng không.
  • Áp lực hít vào và áp lực thở ra.
  • Thời gian hít vào nếu được chỉ định.
  • Có cần thể tích khí lưu thông hoặc thông khí phế nang mục tiêu không.
  • Dải áp lực thiết bị.
  • Chỉ số cần theo dõi như nhịp thở, thể tích khí, thông khí phút và rò khí.
  • Nhu cầu cảnh báo, oxy phối hợp hoặc nguồn điện dự phòng nếu có.

Không phải mọi máy BiPAP đều có nhịp thở dự phòng hoặc mode hướng tới thông khí mục tiêu.

Có thể xem thêm BiPAP S/T là gì? và danh mục máy BiPAP tại cpap.vn.

Điều trị OHS cần theo dõi lâu dài như thế nào?

Điều trị cần theo dõi cả dữ liệu máy, trao đổi khí, triệu chứng và cân nặng.

Người bệnh nên được đánh giá định kỳ về thời gian sử dụng PAP, rò khí, AHI tồn dư, oxy máu khi ngủ khi có chỉ định, PaCO₂ hoặc bicarbonate, mức độ buồn ngủ, đau đầu buổi sáng, khó thở và khả năng dung nạp mặt nạ. Việc đổi phương thức điều trị nên dựa trên đáp ứng tổng thể, không chỉ một chỉ số trong ứng dụng.

ATS đề xuất các biện pháp giúp giảm bền vững khoảng 25–30% trọng lượng cơ thể vì mức giảm này có khả năng cải thiện rõ tình trạng giảm thông khí; mục tiêu đó thường khó đạt chỉ bằng thay đổi lối sống và có thể cần cân nhắc phẫu thuật giảm cân ở người phù hợp. Đây cũng là khuyến nghị có điều kiện, và người bệnh không nên tự ngừng PAP sau khi giảm cân nếu chưa được đánh giá lại bằng khí máu và xét nghiệm giấc ngủ.

Khi nào cần đi cấp cứu?

Suy hô hấp tăng CO₂ có thể diễn tiến nhanh và không nên được xử lý bằng cách tự tăng oxy hoặc đổi mode máy.

Cần đến cơ sở cấp cứu nếu người bệnh khó thở tăng nhanh, thở nhanh hoặc gắng sức rõ, buồn ngủ bất thường hay lú lẫn, môi hoặc đầu chi tím, đau ngực, ngất hoặc giảm ý thức. Đây có thể là biểu hiện thiếu oxy, CO₂ tăng nặng hoặc suy hô hấp cấp.

Người bệnh thường hỏi gì về OHS?

OHS khác OSA thế nào?

OSA chủ yếu là tình trạng đường thở trên bị tắc trong lúc ngủ. OHS còn có tăng CO₂ ban ngày và phải loại trừ những nguyên nhân giảm thông khí khác.

SpO₂ bình thường có loại trừ OHS không?

Không. ATS không khuyến nghị dùng SpO₂ khi thức làm căn cứ duy nhất để quyết định có cần đo PaCO₂ hay không.

Giảm cân có thể thay thế PAP không?

Giảm cân là phần quan trọng của điều trị, nhưng không nên tự dừng PAP. Bác sĩ cần đánh giá lại khí máu và hô hấp khi ngủ trước khi thay đổi liệu pháp.

Có thể tự chọn mode S/T trên máy BiPAP không?

Không. Mode, áp lực và nhịp thở dự phòng tác động trực tiếp đến thông khí và cần được thiết lập theo chỉ định chuyên môn.

Cần nhớ điều gì?

Lựa chọn PAP trong hội chứng giảm thông khí do béo phì phải dựa trên khí máu, đa ký giấc ngủ, bệnh đồng mắc và đáp ứng điều trị. Không nên chọn CPAP hay BiPAP chỉ từ cân nặng, SpO₂ hoặc cảm giác khó thở.

Làm sao để cpap.vn hỗ trợ đối chiếu thiết bị?

Gửi kết quả khí máu, kết quả đa ký giấc ngủ và toa cài đặt máy để cpap.vn hỗ trợ đối chiếu thiết bị đúng mode và đúng chỉ định. Tham khảo máy CPAP và máy BiPAP sau khi bác sĩ đã xác định phương thức điều trị.

Lưu ý: Nội dung chỉ mang tính tham khảo, không thay thế chẩn đoán và chỉ định của bác sĩ. Không tự đổi CPAP sang BiPAP, tự tăng oxy hoặc tự cài nhịp thở dự phòng.

Tài liệu tham khảo

  1. Mokhlesi B, Masa JF, Brozek JL, et al. Evaluation and Management of Obesity Hypoventilation Syndrome: An Official American Thoracic Society Clinical Practice Guideline. American Journal of Respiratory and Critical Care Medicine. 2019;200(3):e6–e24.
  2. National Heart, Lung, and Blood Institute. Respiratory Failure – Symptoms.

Hotline/Zalo: 0916 872 112
Gmail: contact@cpap.vn
Địa chỉ cửa hàng:

TP HCM: 112 – 114 Đường 32, Tiểu khu 1, phường An Lạc, TP. HCM

Hà Nội CS1: P828, Số 26 đường Láng, phường Đống Đa, Hà Nội​

Hà Nội CS2: Số 33 ngõ 4 Phương Mai, phường Phương Mai, Hà Nội

Đà Nẵng: K68/31 Bùi Tá Hán, phường Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng

Phone
Zalo
WhatsApp
Viber
Email
Tư vấn giấc ngủ
WhatsApp
Viber
Điện thoại
Email
Zalo
Đăng ký khám
Giỏ hàng
Giỏ hàng đang trống.

Bạn hãy xem và mua một số sản phẩm từ cửa hàng.

Tiếp tục mua hàng
Ghi chú đơn hàng