Nhịp đập của sự mệt mỏi: Chứng ngưng thở khi ngủ và sự ảnh hưởng tim mạch

Trong lĩnh vực sức khỏe, sự liên kết giữa các hệ thống cơ thể của chúng ta thường bộc lộ những mối liên hệ đáng ngạc nhiên. Một mối quan hệ phức tạp như vậy nằm giữa chứng ngưng thở khi ngủ và sự ảnh hưởng tim mạch. Mặc dù chứng ngưng thở khi ngủ thường được coi là một chứng rối loạn giấc ngủ, nhưng tác động của nó vượt xa những đêm không ngủ, đan xen với hoạt động phức tạp của sức khỏe tim mạch của chúng ta.

Hiểu về chứng ngưng thở khi ngủ

Trước khi đi sâu vào mối liên hệ với sức khỏe tim mạch, chúng ta hãy cùng nắm bắt bản chất của chứng ngưng thở khi ngủ. Ngưng thở khi ngủ được đặc trưng bởi sự ngừng thở hoặc thở nông trong khi ngủ. Những lần ngưng thở này có thể xảy ra vài lần đến hàng chục lần trong một giờ, làm gián đoạn giấc ngủ và từ đó dẫn đến làm suy giảm sức khỏe của chúng ta. Ngưng thở khi ngủ có thể do sự thả lỏng quá mức của các cơ vùng hầu họng và làm tắc nghẽn tại vị trí đó, gọi là ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn. Hoặc có thể do sự mất tương tác giữa não bộ và cơ hô hấp, còn gọi là ngưng thở khi ngủ do thần kinh. Các triệu chứng điển hình có thể dễ nhân thấy nhất khi 1 người mắc chứng ngưng thở khi ngủ là ngáy to, thức dậy nhiều lần trong đêm để thở trở lại, buồn ngủ và mệt mỏi vào ban ngày, khó tập trung, tính tình thay đổi,…

Câu hỏi hóc búa về tim mạch

Chứng ngưng thở khi ngủ tuy chỉ là chứng rối loạn giấc ngủ nhưng lại có sự liên quan đáng kinh ngạc và có tác động đáng kể đến sức khỏe tim mạch. Rất nhiều nghiên cứu đã được thực hiện để tìm ra mối liên kết này, và đã phát hiện ra mối liên hệ thuyết phục giữa chứng ngưng thở khi ngủ và một loạt các vấn đề về tim mạch, bao gồm tăng huyết áp (huyết áp cao), bệnh động mạch vành, đột quỵ và suy tim.

Mối liên kết chặt chẽ

Vậy ngưng thở khi ngủ góp phần gây ra các vấn đề về tim mạch như thế nào? Câu trả lời nằm ở hậu quả sinh lý của chứng ngưng thở khi ngủ không được điều trị. Trong giai đoạn ngưng thở, nồng độ oxy trong máu giảm xuống, trong khi nồng độ carbon dioxide tăng lên. Sự biến động này gây ra một loạt phản ứng trong cơ thể, bao gồm:

  • Tăng huyết áp

Với mỗi cơn ngưng thở, lượng oxy vào máu bị suy giảm, khiến cơ thể rơi vào tình trạng thiếu oxy – một sự thiếu hụt được coi là chất xúc tác cho sự hỗn loạn. Để đáp ứng với lượng oxy thiếu hụt này, cơ thể sẽ tiết ra hormone gây căng thẳng, bao gồm cả adrenaline và cortisol. Những chất trung gian mạnh mẽ này trong phản ứng chiến đấu hoặc bỏ chạy của cơ thể sẽ huy động các nguồn lực, gióng lên hồi chuông cảnh báo và huyết áp sẽ tăng lên nhằm đảm bảo sự sống sót giữa tình trạng hỗn loạn về đêm. Theo thời gian, tình trạng tăng huyết áp dai dẳng này có thể làm căng tim và động mạch, làm tăng nguy cơ mắc các biến cố tim mạch.

  • Rối loạn chức năng nội mô

Lớp nội mạc mạch máu là lớp lót bên trong lòng hệ thống thành mạch máu, là nơi tiếp xúc trực tiếp với dòng máu. Lớp nội mạc này được coi như 1 người bảo vệ mạch máu với nhiệm vụ duy trì sức khỏe mạch máu và cân bằng nội môi, điều hòa sự giãn mạch máu, điều hòa tiểu cầu và điều hòa viêm. Khi đối mặt với tình trạng thiếu oxy tái diễn và căng thẳng oxy hóa, lớp nội mô bị mất ổn định. Oxit nitric, dấu hiệu báo trước của sự giãn mạch và bảo vệ chống lại chứng xơ vữa động mạch, bị thay thế bởi các chất co mạch, siết chặt thành động mạch và làm giảm lưu lượng máu đến các cơ quan quan trọng. Rối loạn chức năng nội mô góp phần vào sự phát triển của chứng xơ vữa động mạch, sự tích tụ mảng bám trong động mạch, khiến con người dễ mắc bệnh tim và đột quỵ.

  • Rối loạn nhịp tim

Việc huyết áp chúng ta tăng lên rồi giảm xuống liên tục nhiều lần trong đêm mỗi khi chúng ta bị ngưng thở kèm theo chức năng nội mô bị rối loạn, nếu không được điều trị kịp thời thì lâu dần có thể dẫn tới tình trạng rối loạn nhịp tim như rung tâm nhĩ, rung tâm thất, nhịp nhanh kịch phát,… Những nhịp tim không đều này có thể làm gián đoạn lưu lượng máu và làm tăng nguy cơ đông máu, làm tăng khả năng bị đột quỵ và các biến chứng tim mạch khác.

Phòng ngừa và điều trị

Thừa nhận mối liên hệ giữa chứng ngưng thở khi ngủ và các vấn đề về tim mạch nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát hiện và can thiệp sớm. Sàng lọc chứng ngưng thở khi ngủ, đặc biệt ở những người có yếu tố nguy cơ như béo phì hoặc ngáy, hoặc người mắc bệnh cao huyết áp, có thể tiết lộ những mối đe dọa tiềm ẩn đối với sức khỏe tim mạch.

Việc điều trị chứng ngưng thở khi ngủ, chẳng hạn như liệu pháp áp lực đường thở dương liên tục (CPAP), đóng vai trò là nền tảng trong việc bảo vệ sức khỏe tim mạch. Đây là liệu pháp tiêu chuẩn vàng trong điều trị chứng ngưng thở khi ngủ, được Hội Y học Giấc ngủ Hoa Kỳ công nhận. Bằng cách dùng 1 luồng khí áp lực dương thổi vào đường hô hấp, giúp duy trì đường thở luôn mở trong lúc ngủ và ngăn chặn việc phải thức giấc nhiều lần trong đêm. Liệu pháp CPAP làm giảm bớt các yếu tố căng thẳng sinh lý gây ra chứng ngưng thở khi ngủ, giảm thiểu hậu quả về tim mạch của nó.

Bên canh đó, hãy phối hợp thêm thay đổi lối sống để cải thiện tình trạng này. Như hạn chế uống rượu bia, tập thể dục – đặc biệt hãy tập những bài luyện tập vùng cơ hầu họng, giảm cân, …

Kết luận

Sự tương tác phức tạp giữa chứng ngưng thở khi ngủ và sức khỏe tim mạch làm sáng tỏ tác động sâu sắc của giấc ngủ phục hồi đối với sức khỏe tổng thể của chúng ta. Khi chúng ta làm sáng tỏ sự phức tạp của mối quan hệ này, việc nâng cao nhận thức và ưu tiên quản lý chủ động nổi lên như những bước then chốt trong việc bảo vệ sức khỏe tim mạch.

Để theo đuổi sức khỏe tối ưu, chúng ta hãy chú ý đến những lời thì thầm của màn đêm, nhận ra rằng đằng sau bức màn của giấc ngủ có mối liên hệ sâu sắc giữa nhịp điệu nghỉ ngơi và sức sống của trái tim chúng ta. Thông qua cảnh giác, giáo dục và hợp tác chăm sóc, chúng ta có thể thu hẹp khoảng cách giữa chứng ngưng thở khi ngủ và các vấn đề về tim mạch, mở đường hướng tới một ngày mai khỏe mạnh hơn, sôi động hơn.